Người xưa có răn dạy một đạo lý: “Thà tin rằng có, chớ tin rằng không”. Những người không tin Thần Phật, không tin nhân quả thật đáng thương, tự họ hại mình mà chẳng biết. Nhưng niềm tin và tư tưởng con người thì khó thay đổi, nên người xưa mới dạy rằng, nếu một người không tin Thần Phật, không tin nhân quả, thì đó là tư tưởng cá nhân. Nhưng thà rằng cứ tin là có đi, chớ tin là không có, anh ta sẽ ước chế bản thân, tránh phỉ báng Thần Phật, tránh làm điều ác, từ đó đảm bảo được sinh mệnh, phúc phận của bản thân anh ta cùng gia đình. Còn trái lại, cứ chấp mê bất ngộ, đã không tin lại buông lời phỉ báng, hãm hại người thiện lương, giết người hại mệnh, thì cái chờ đợi anh ta chính là quả báo, không sớm thì muộn, nhiều khi còn liên lụy vạ lây đến gia đình, vợ con.Trong cuộc sống vẫn luôn xảy ra nhân quả báo ứng, chỉ cần chúng ta chú ý theo dõi quan sát trong thời gian đủ dài sẽ nhận thấy rất rõ, vì nhân quả là quy luật của vũ trụ.
Nghệ thuật thư pháp Á Đông: sự tinh tế và uyên thâm trong từng nét chữ
Vì sao gọi thư pháp là một nghệ thuật?
Bởi nó nói lên rằng nét chữ trở thành một nét đẹp khi con người ta thả hồn, trao tâm mình ở nét chữ để làm lộ ra tính cách, tâm tư – Khi đó nét chữ trở thành nghệ thuật.
Thư pháp bắt nguồn từ Trung Hoa cổ xưa, dựa trên kết quả của các nhà khảo cổ, họ đã tìm thấy những hệ văn tự đầu tiên được tìm thấy từ mấy ngàn năm trước, được dự đoán từ 1200 năm trước công nguyên.
Hệ văn tự đầu tiên này trên mai và yếm rùa, nó có tên gọi là giáp cốt, tiếp sau đó là những hệ văn tự được khắc trên xương thú gọi là thú cốt, hay khắc trên kim loại như lư, đỉnh… gọi là kim cốt. Sau này người ta tạo ra bút lông và nghiên mực để viết chữ lên giấy, lụa.
Nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa mang tầm ảnh hướng rất lớn cũng như hệ văn tự của người Trung Hoa ảnh hưởng toàn diện tới văn hóa các nước Á Đông, tạo nên nét riêng biệt đặc trưng cho cả một vùng địa lý rộng lớn, bao gồm cả Nhật Bản Hàn Quốc và Việt nam.
Sự ra đời của chữ Hán và nền móng đặt định cho nghệ thuật thư pháp.
Tương truyền rằng, người tạo ra chữ Hán là Thương Hiệt, huyền sử này theo ghi chép của cuốn Lã thị xuân thu như sau:
Thời thượng cổ, tại vùng Quan Trung thuộc Thiểm Tây có một người tên là Thương Hiệt, họ Hầu Cương, bút hiệu Sử Hoàng Thị, biệt hiệu Song đồng tứ mục, tục xưng Thương Hiệt tiên sư, Thương Hiệt thánh nhân, Thương Hiệt chí thánh, Chế tự tiên sư, Chế tự tiên thánh, Hữu sử Thương thánh nhân.
Thương Hiệt bẩm sinh có 4 mắt, từ hai đôi mắt đó phát ra tia sáng dị thường, quan sát sự vật vô cùng rõ ràng. Thương Hiệt xõa tóc, để râu, mình mặc da thú, ngồi trên tấm da của một loài mãnh thú, tay luôn cầm bút, nói chuyện cùng với người đối diện, dường như đang suy nghĩ điều gì. Đầu của ông cũng khác với người thường, đỉnh đầu nhô cao lộ vẻ thông minh đặc biệt.
Ông thường cưỡi lừa bôn ba khắp cao nguyên hoàng thổ ở Thiểm Tây, vượt núi băng sông, đi khắp các châu các quận, tìm hiểu phong tục tập quán dân gian, thu thập phù hiệu ngôn ngữ lưu hành trong dân gian. Lúc bấy giờ chưa có giấy, ông đem những tài liệu thu thập được viết lên lá lau sậy rồi bỏ vào trong túi để lừa thồ đi. Tư liệu mà Thương Hiệt thu thập rất nhiều, đựng đến mấy túi, con lừa đi đến huyện Kỳ Sơn vì quá mệt mà chết.
Ông mang những túi này, không có lừa không thể đi tiếp nên đã tìm một gian lều cỏ lưu lại. Thương Hiệt không ngừng quan sát thiên tượng, ngẩng đầu nhìn kỹ mặt trăng biến hóa khi tròn khi khuyết, còn thấy rõ hiện tượng diễn biến của núi sông mưa gió, phân biệt được dấu chân của các loài điểu thú, hoặc dấu tích của dã thú, xe cộ lưu lại khi đi qua, khu biệt được sự giống nhau và khác nhau của các loại dấu vết, đồng thời bắt đầu sáng tạo ra văn tự. Thương Hiệt không quản ngày đêm, chăm chỉ quan sát suy ngẫm.
Một đêm nọ, Thương Hiệt mệt đến nỗi đầu óc tối tăm, lại thêm cóc trong ao kêu liên tục, quấy rầy sự suy nghĩ của ông. Lúc đó, Thương Hiệt đang nghĩ đến việc làm sao tạo ra 2 chữ “xuất” (ra) và “trọng” (nặng). Bỗng cóc kêu lên một tiếng, kết quả ý nghĩa của chữ bị đảo lộn. Chữ 山 (sơn) ở trên có thêm chữ 山 nữa vốn có nghĩa là nặng, chữ 千 (thiên) chữ 里 (lý) vốn có nghĩa là xa; nhưng Thương Hiệt lại cho chữ 出 (xuất) có nghĩa là “ra”, cho chữ 重 (trọng) có nghĩa là nặng. Đêm đã khuya, Thương Hiệt nhấc bút lên chấm đầy mực, tức giận quẳng bút mực văng đến miệng cóc.
Theo truyền thuyết, mãi đến nay, bên mép của cóc ở Kỳ Sơn đều đen cả. Như vậy, Thương Hiệt hội ý tạo chữ, sáng tạo ra 24 chữ cổ. Sau khi Thương Hiệt tạo ra chữ đã cảm động thần linh, gạo từ trên trời rơi xuống, quỷ thần ban đêm cũng kinh hãi khóc rống. Chẳng bao lâu, Thương Hiệt vâng mệnh thống nhất văn tự và cùng chỉ dẫn các quan viên cải cách văn tự. Thương Hiệt còn là vị sử quan của Hoàng Đế, ghi chép sự việc, những việc lớn liên quan đến biên chép của thị tộc đều do Thương Hiệt nắm giữ, nên từ đó mà diễn dịch thành truyện Thương Hiệt có liên quan mật thiết đến việc sáng tạo văn tự.
Do vậy mà Hán tự khởi nguyên là chữ tượng hình, nghĩa là mô tả hình dáng các vật thể trong thiên nhiên. Trải qua một giai đoạn thời kì lịch sử, Hán tự đã có nhiều biến đổi, xong nó vẫn giữ được giá trị hàm nghĩa và câu chuyện về mỗi chữ đó.
Vào khoảng thế kỉ thứ II và thế kỉ thứ IV CN, nghệ thuật viết chữ hay gọi là thư pháp hay thư đạo trở thành một môn nghệ thuật tao nhã, cao siêu được các cao nhân mặc khách và một số đại danh sĩ có trình độ học vấn cao thâm đặt định.
Một trong số những đại danh sĩ đó có tên là Vương Hi Chi ( 330-361) là một đại quan với kiến thức thâm sâu và cũng là một đại thư gia mà người đời tôn ông làm: Thảo thánh
Do sự ảnh hưởng rất sâu của Hán tự, sau này nó được phổ biến ở các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Tạo thành nét riêng biệt độc đáo của thư pháp Á Đông.
Thư pháp không chỉ là một môn nghệ thuật cao siêu bởi nó không chỉ đạt được cái đẹp mà còn phản ánh tâm hồn của người cầm bút
Nghệ thuật Thư pháp được thể hiện bằng chữ Hán, sử dụng bút lông, mực tàu, giấy và nghiên mài mực hay còn gọi là “văn phong tứ bảo”. Với người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ đẹp thành một môn nghệ thuật, cao quý có tính chất phô diễn, mang khí phách của con người, và thêm vào đó là cá tính của người cầm bút. Ở Nhật bản người ta gọi nghệ thuật viết chữ đẹp là Thư đạo, ở Hàn Quốc người ta gọi là Nghệ thư, ở Việt Nam gọi là Thư pháp.
Khi đánh giá thư pháp là một môn nghệ thuật cao siêu, bởi các tiêu chí đánh giá một bức thư pháp rất khắt khe. Một thư gia có thể hành bút, thì phải trải qua thời gian khổ luyện. Nắm được tiêu chí cơ bản về: Điểm hoạch (đường nét), kết thể (bố cục), thần vận (cái hồn) của tác phẩm, và cao hơn thế nữa chính là cảnh giới tư tưởng của thư gia.
Một nhà thư pháp đòi hỏi có kiến thức sâu rộng và khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Điều này đòi hỏi người ta phải có nền tảng kiến thức thâm sâu về kết hợp và phân bố hình khối, tạo nét dáng qua từng đường nét. Khi có óc tưởng tượng kết hợp với khả năng cảm thụ thì người ta mới thể hiện thành công ý tưởng trên tác phẩm của mình.
Sư đòi hỏi đối với một thư gia không phải chỉ đơn thuần ở luyện tập về kiến trúc, kiến thức tạo hình, tạo màu mà còn phải là một tu luyện tâm thân. Tại sao lại phải tu luyện tâm thân?
Tác phẩm thư pháp đẹp là tác phẩm không chỉ dựa trên kiến thức, mà còn thể hiện ra cảnh giới tư tưởng, một thư gia đạt trạng thái:
Tâm bình tĩnh khí, thì nét bút thể hiện sự ổn định trong trạng thái tư tưởng, mềm mại nhưng không lỏng lẻo, cứng cỏi nhưng không khô khan, trong cương có nhu, trong động có tĩnh. Đó chính là phần hồn của một thư pháp.
Một thư gia có tâm hồn hòa ái, sự kiên trì nhẫn nại, hay tính tình nóng vội, tự cao, đều thể hiện ra nét bút của mình, độ đậm nhạt của nét bút, tốc độ viết nhanh chậm đều thể hiện trạng thái tâm tư của người đó khi cầm bút.
Nên đối với người Nhật, họ không chỉ coi thư pháp là một môn nghệ thuật tinh tế cao siêu, mà họ gọi đó là một môn để họ tu dưỡng tâm thân, nhấn mạnh đạo lý làm người, nên họ gọi đó là thư đạo.
Tương tự như vậy, hân thưởng một bức thư pháp cũng đòi hỏi một kiến thức và cách cảm thụ rất sâu. Họ cảm thụ bút pháp và sự sáng tạo của tác giả qua từng nét bút với tiết tấu nhanh chậm, nét mực ướt đẫm lâm li hay ủy mị thướt tha và với độ đậm nhạt của nét bút cũng như cách phối hợp với màu giấy trắng mực đen một cách hài hòa sắc cạnh.
Sự am tường về chữ Hán, và quy luật thứ tự nét bút, số nét bút của từng chữ. Từ đó mà người thưởng ngoạn thư pháp sẽ cảm nhận được sự tinh tế của tác phẩm, thông hiểu hàm ý và nội dung của thư gia mà thấy gần gũi và thương mến. Có lẽ đây chính là những cảm xúc đặc biệt đặc sắc mà ít một môn nghệ thuật nào có thể làm được.
Có một đại thư gia đời Bắc Tống có tên là Mễ Phất đã có nhận xét như sau khi thưởng ngoạn một bức thư pháp của cổ nhân:
Một khi tôi trải một bức thư pháp của cổ nhân mà ngắm, tôi ngất ngây đến độ sấm động bên tai cũng không hay, thức ăn thơm ngon ngào ngạt bên cạnh cũng không màng… Tôi ngờ rằng sau này khi tôi lìa đời hồn tôi sẽ biến thành con cá nhập vào những bức họa mà tung tăng bơi lội trong đó.
Đôi nét về nghệ thuật thư pháp Nhật bản và Việt nam
Ở Nhật bản: Thư pháp được gọi là thư đạo, thường được thể hiện bởi các thư gia là những nhà thiền sư, tu luyện tới cảnh giới tâm tĩnh không động, nên khi khai bút, nét tĩnh không thể phá trong tác phẩm, sự bình không thể loạn trong hàm ý được bộc lộ rất rõ. Người cầm bút biết rõ mình là ai, và mình như thế nào, tức biết rõ bản thân để bộc bạch qua nét bút. Nên họ coi trọng tâm tính, bởi vậy mà không chỉ khái niệm là viết chữ đẹp, nghệ thuật cao siêu, mà còn gọi là thư đạo.
Ở Việt nam, thư pháp được bắt đầu từ thư pháp chữ Hán, trong thời kỳ Bắc thuộc người Hán đã truyền bá văn hóa và cả chữ viết vào nước ta, trong đó có cả nghệ thuật thư pháp, trải qua hàng nghìn năm thư pháp chữ Hán tại nước ta cũng phát triển rộng rãi. Đến khi chữ Quốc Ngữ ra đời dần thay thế cho chữ Hán thì thư pháp chữ Quốc Ngữ từ đó cũng được hình thành.
Thư pháp chữ Việt dễ dàng thể hiện theo nhiều cách khác nhau, tự do sáng tạo không ràng buộc trong khuôn khổ như chữ Hán, nhưng phải luôn giữ vững cấu trúc của chữ. Là chữ Latin không phải chữ tượng hình như chữ Hán nên khó biểu đạt được tâm ý và nội dung của câu chữ, chính vì vậy người viết thường cố tình tạo nên những tác phẩm mang hình ảnh cần biểu đạt mà dễ làm mất đi cấu trúc chính của chữ khiến người xem khó đọc được.
Có thể nói rằng thư pháp là một loại hình nghệ thuật biểu thị sự cao siêu trong kiến thức, tinh thông trong hội họa, lịch sử và vẻ đẹp của nó gắn liền với những bức tranh thủy mặc. Không chỉ vậy, nó còn bộc lộ rất rõ nét hàm ý cũng như tâm tư của người cầm bút, một loại trạng thái cảm xúc rất tao nhã. Chính vì đó mà người xưa nhìn nét chữ là đánh giá được con người.
Bởi nó chính là sự mô phỏng tâm tư tình cảm, cảnh giới tư tưởng của một thư gia. Tâm tính bình ổn, an hòa, bức thư pháp như một bức họa tuyệt mĩ, tâm thái bất ổn, khí phách bậc trung hay hạ sĩ, nét bút như gà bới ổ rơm.
Cho đến ngày nay, thư pháp phát triển rất mạnh mẽ ở Việt nam hay một số nước khác, mặc dù không giữ được nhiều về giá trị hàm ý thâm sâu, xong nó luôn được coi là một loại hình nghệ thuật thanh tao.
Thư pháp chữ Việt, hay thư pháp Việt ngữ là chữ quốc ngữ Việt viết lối thư pháp, là một phân môn nghệ thuật xuất hiện ở Việt Nam từ thập niên 1950 – 1960. Những người đam mê và theo đuổi học tập, nghiên cứu phân môn nghệ thuật này tôn ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát làm “Ông tổ” của Thư pháp chữ Việt. Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Bính Ngọ 1906, tại làng Mỹ Đức tỉnh Hà Tiên. Đông Hồ là một người có bàn tay tài hoa, vốn yêu thích viết chữ đẹp và nghệ thuật thư pháp, và lại yêu tiếng Việt nên ông là người đầu tiên có ý tưởng dùng cọ lông và mực Tàu viết chữ quốc ngữ. Vì thế ông được tôn là tổ sư của bộ môn Việt thư (thư pháp chữ Việt). Ông mất ngay khi đang đọc thơ trên bục giảng vào ngày 25/03/1969 nhằm năm Kỷ Dậu.
Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp với bút sắt, sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh viết thư pháp Quốc ngữ.
Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009: “Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai”
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, phong trào thư pháp chữ Việt bùng nổ, điển hình là các câu lạc bộ thư pháp được thành lập rộng khắp các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, như Câu lạc bộ yêu thích chữ Việt (Q.1), Câu lạc bộ Thư họa Giác Ngộ (Báo Giác Ngộ – Q.3), v.v. Từ năm 2004 lan rộng ra Bắc và sang đến đầu thế kỷ 21, thư pháp chữ Việt phát triển mạnh mẽ khắp ba miền Trung – Nam – Bắc.Có nhiều tác phẩm lớn, gây được tiếng vang như cuốn thư pháp kỷ lục Truyện Kiều dài 300, được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002 và cuốn thư pháp gỗ về Tuyên ngôn Độc lập nặng 400 kg của Trịnh Tuấn, cuốn thư pháp thơ Lục Vân Tiên dài 120 m của ông Vĩnh Thọ… đánh dấu được tiếng nói nhất định của thư pháp chữ Việt.
Hình thức
Trong thư pháp Việt ngữ hiện nay có 5 kiểu chữ chính:
Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người.
Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút “nhiếp tâm” giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết này thể hiện cá tính của người viết. Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký. Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc.
Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên.
Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược.
Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa. Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.
Thư pháp Á Đông (chữ Hán: 東亞書法, Đông Á thư pháp) là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người ta dùng bút lông, chấm mực tàu, viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa, theo những phong cách khác nhau. Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân (hay còn gọi là Khải), Triện, Lệ, Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét, cách thức thể hiện.Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư, thừa tướng của triều đình nhà Tần, là người khởi đầu cho nghệ thuật thư pháp vì ông là người được giao việc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước nhỏ khác đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất[cần dẫn nguồn]. Trải qua các triều đại sau đó, sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia (người viết chữ đẹp) nổi tiếng, như Vương Hy Chi (đời Đông Tấn) hay Tề Bạch Thạch (đời nhà Thanh).Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch (đường nét), kết thể (bố cục), thần vận (cái hồn của tác phẩm)… Cùng với sự lan rộng của văn hoá các triều đại Trung Quốc trong một khoảng thời gian dài, môn nghệ thuật này cũng trở nên phổ biến tại Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.
Thư pháp Trung Hoa
Bài chi tiết: Thư pháp Trung HoaĐây là dòng thư pháp được phát triển sớm nhất, mạnh nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến các dòng thư pháp của các ngôn ngữ khác trong vùng Đông Á. Thư pháp chữ Hán không chỉ là một môn của nghệ thuật của riêng Trung Quốc, Đài Loan mà cả vòng văn hóa chữ Hán…. Nhiều nhà thư pháp tại các nước nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam cũng sáng tác các tác phẩm thư pháp bằng chữ Hán.
Một câu đối Tết tiếng Việt viết theo lối thư pháp, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009
Thư pháp Việt Nam bao gồm hai dòng: Thư pháp Hán-Nôm và Thư pháp Quốc ngữ (hay thư pháp chữ Việt).
Sắc phong năm Hồng Đức thứ 23 thời Lê sơXưa nay, trong lịch sử Việt Nam không hoàn toàn có nhắc đến một cách chính danh một bộ môn nghệ thuật nào mang tên Thư Pháp và danh xưng chính thức như Thư pháp gia hay còn gọi là Nhà Thư pháp cho những người hoạt động trong lĩnh vực này, chỉ có khái niệm viết chữ đẹp và người viết chữ đẹp [cần dẫn nguồn]. Ở các thời kỳ, đều có những người viết chữ đẹp được công nhận như Lý Nhân Tông thời Lý, Nguyễn Đình Giới thời Trần, Bùi Đình Kiên thời Lê hay như Cao Bá Quát thời Nguyễn.Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, dùng văn tự Hán nhưng lại không chính danh được cho bộ môn này. Các nhà nghiên cứu chưa tìm thấy các tư liệu lịch sử của suốt quá trình bị phương Bắc đô hộ và cả thời kỳ độc lập tự chủ nhắc đến bộ môn này. Tuy nhiên, một số ít tư liệu như trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn hay Vũ Trung Tùy bút của Phạm Đình Hổ cũng có nhắc đến một cách sơ lược lối viết chữ Hán của người Việt và người phương Bắc.
Sắc phong năm Sùng Khang thứ 9 thời MạcDanh sĩ thời Lê-Nguyễn Phạm Đình Hổ đã nhắc tới một lối viết chữ của người Nam dưới thời Lê mà ông gọi là Nam tự và được ông đưa ra so sánh với lối chữ của người phương Bắc mà ông gọi là Bắc tự[1]. Lối chữ này vẫn còn được thấy trên rất nhiều sắc phong, văn bia,… còn lại từ thời Lê. Học giả Nguyễn Sử cho rằng để đạt được sự thống nhất về lối chữ Nam phải kể đến vai trò của vua Lê Thánh Tôngtrong cuộc cải cách hành chính mà ông đề ra[2]. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại các sắc lệnh về việc thống nhất lối chữ viết quan phương như sau: năm Quang Thuận thứ 9: “Sắc chỉ Lễ bộ quy định các dạng thức văn tự dân gian, ban hành thiên hạ” ; năm Hồng Đức thứ 8: “Sắc chỉ các vệ nha môn, dùng lối chữ hoa áp, phải kính cẩn tuân phụng thi hành.” Đặc điểm của lối chữ hành chính thời Lê là nét ngang bằng, thẳng, giấu đầu che đuôi, các nét cuối thường có xu hướng hất lên trên và càng về sau xu hướng này càng khoa trương và độ khó trong việc vận bút đã cao hơn hẳn ở thời Mạc và Lê Trung Hưng[2].
Sắc phong năm Vĩnh Thịnh thứ 5 thời Lê trung hưngỞ thời Lê Trung Hưng, lối chữ Nam này đã hoàn thiện với đặc điểm “đầu cong chân quẹo”[1], cách dụng bút hiểm hóc, kết thể thu chặt vào trong, dường như tuân theo khối tròn chứ không nằm trong hình vuông như chữ Khải thông thường[2]. Bắt nguồn từ việc dùng trong hành chính, nhưng lối chữ này dần dần được dùng cho cả hoành phi, câu đối, văn bia,.. ở các chùa và gần như thống trị thư đàn thời Lê Trung Hưng. Phạm Đình Hổ cho biết: “…những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ Nam, lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, mới theo hoa văn đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy, thì sáu năm một lần, thi trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn”[3]. Theo Việt sử toát yếu, thời Lê thi viết gồm 3 phần thi: Đại thư, Tiểu thư và Lệnh thư. Lối chữ Lệnh thư được nhắc đến này có thể chính là lối chữ dùng trong sắc lệnh, hành chính. Cuối thời Lê, việc yêu thích lối chữ phương Bắc của chúa Trịnh Sâm[1] đã đẩy thư pháp quay lại với nhiều phong cách tự do hơn, xóa tan một thời kỳ dài chỉ dùng một lối chữ bản địa dập khuôn. Lối chữ viết Nam tự thời Lê, tuy xuất phát từ mục đích thực dụng trong việc ghi chép của quan phương, nhưng cũng đã tạo nên một dấu ấn nghệ thuật đặc sắc cho thư phong Việt Nam trong tổng thể thư đàn Á Đông.Thư pháp chữ Việt, hay thư pháp Việt ngữ được bắt đầu từ khoảng 30 năm gần đây. Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp bằng bút sắt. Sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh chơi thư pháp Quốc ngữ. Đến nay, thư pháp chữ Việt đã được nhiều người quan tâm. Một trong những tác phẩm thư pháp nổi bật nhất là cuốn thư pháp Truyện Kiều của Nguyễn Đình, tác phẩm này được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002.Trong thư pháp Việt ngữ hiện nay có 5 kiểu chữ chính:
Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người.
Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút “nhiếp tâm” giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết này thể hiện cá tính của người viết. Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký. Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc.
Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên.
Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược.
Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa. Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.
Thư pháp Hàn Quốc
Thư pháp tại Hàn Quốc gọi là thư nghệ(書藝).
Thư pháp Nhật Bản
Thư pháp tại Nhật Bản gọi là thư đạo(書道). Theo các chuyên gia thư pháp Nhật Bản, chữ Hán được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản từ khoảng 2000 năm trước, được sử dụng phổ biến ở Nhật Bản từ khoảng thế kỷ 5. Sau đó, dựa trên cơ sở chữ Hán, người Nhật đã sáng tạo ra kiểu chữ của mình là chữ Hiragana và Katakana (kiểu chữ biểu thanh). Thư pháp Nhật Bản được hình thành từ hai kiểu chữ chính là kiểu chữ Hán từ Trung Quốc đến và kiểu chữ Hiragana, Katakana. Hiện nay, ở Nhật Bản có từ 8 đến 10 triệu người tham gia viết thư pháp, và thư pháp được coi là một trong những môn nghệ thuật đặc sắc của Nhật Bản.
Thư pháp viết bởi Natsume Soseki (1867 – 1916) 夏目漱石 thời Meiji
Thư pháp thời Nara
Theo phân loại của Hội thư pháp Mainichi của Nhật Bản, thư pháp truyền thống đến thư pháp hiện đại của Nhật Bản có thể được xếp theo 7 bộ môn sau:
Thư pháp chữ Hán
Một nhà thư phápĐược tạo nên nhờ dựa vào thơ, văn xuôi cổ điển viết bằng chữ Hán, dựa vào cảm nhận nghệ thuật và phương pháp học thư pháp của từng người thông qua các tác phẩm từ nhiều chữ đến ít chữ, và các thể loại thư pháp như Ten (Triện thư), Rei (Lệ thư), Kai (Khảo thư), Gyo (Hành thư), So (Thảo thư), tìm kiếm thể loại thư pháp vốn có. Bộ môn thư pháp chữ Hán thể hiện tính hiện đại hoà quyện trong tính truyền thống.
Thư pháp chữ Kana
Được tạo ra để viết những từ ngữ đẹp của Nhật Bản thông qua việc cải biên, phát triển những bài hát Waka và thơ Haiku. Có sự biểu hiện phong phú tùy theo chí hướng khác nhau của các tác giả về những bài ca cổ mà thư pháp Kana. Vẻ đẹp của chữ Kana hiện đại được hoà trộn với cảm giác mới của Kana chữ lớn (nguồn gốc của chữ Kana là chữ nhỏ).
Thư pháp thơ văn cận đại (Cận đại thi văn thư)
Là những tác phẩm lấy văn và thơ hiện đại làm đề tài, điều hoà giữa chữ Hán và chữ Kana tạo ra một thư pháp mới. Đây là bộ môn đã được triển khai, mở rộng ở các kì triển lãm Thư pháp Mainichi. Do tính chất dễ đọc và gần gũi nên nó nhận được sự ủng hộ của nhiều người.the linh la nguoi sang lap
Thư pháp viết chữ lớn (Đại tự thư)
Là những tác phẩm thư pháp viết chữ lớn mà số lượng chỉ từ 1 đến 2 chữ. Một thế giới thư pháp mới được tạo ra từ việc định hướng tạo hình, tôi luyện đường nét và sáng tạo về màu đen.
Thư pháp chữ in bằng khuôn khắc đá – Tenkoku (Triện khắc)
Bộ môn này được cho là tinh hoa của phương Đông và giới thư pháp. Chữ in bằng khuôn hình vuông 3 phân. Người ta khắc trên đá những bản thư pháp và chữ viết thời cổ đại của Trung Quốc sau đó in trên giấy trắng, tạo nên sự tương phản rất đẹp giữa mực (đỏ) và giấy. Tekuko là cảm giác tạo hình mới dựa trên nền tảng truyền thống được hoà quyện trong một không gian nhỏ.
Thư pháp chữ khắc gỗ (Khắc tự)
Chữ viết được khắc lên bản gỗ. Chữ viết ở đây khác với chữ viết bằng bút, nó mang tính lập thể và còn có thể được tô bằng nhiều màu sắc. Khắc tự là một bộ môn thư pháp đang gây được sự chú ý.
Thư pháp ZenEi (Tiền vệ thư)
Bộ môn này biến đổi nhận thức trước kia về thư pháp (coi thư pháp là biểu hiện của nhân cách con người). Thư pháp Tiền vệ thư chịu ảnh hưởng của hai trường phái: hội họa trừu trượng phương Tây và triết học phương Đông. Không bị giới hạn bởi việc lấy chữ làm nguyên liệu chính, người viết có thể tự do thể hiện tâm hồn và tình cảm thông qua các tác phẩm nghệ thuật mang tính trừu tượng.
Thư pháp Ấn Triện xin gửi tới quý khách tập hợp những câu đối hay, đầy ý nghĩa mừng xuân mới, chúc sức khỏe, tài lộc, bình an…
Tân niên tân phúc tân phú quý,Tấn tài tấn lộc tấn bình an Mừng xuân hỉ xả thêm công đứcĐón tết từ bi bớt não phiền Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏCây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh Tân niên hạnh phúc bình an tiếnXuân nhật vinh hoa phú quý lai Vạn đóa hoa tươi khoe sắc TếtNghìn bài thơ thắm đượm hương Xuân Trọn hiếu, vẹn tình Xuân bất tậnChu ân, toàn phúc Tết vô song Xuân sang cội phúc sinh nhành lộcTết về cây đức trổ thêm hoa Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọXuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà Tòa sen đài trước hoa đầy đủCổ thụ bồ đề qủa thanh nhàn Tiên tổ danh thơm ghi sử nướcCháu con tích học nổi cơ nhà
Đa lộc đa tài đa phú quýĐắc thời đắc lợi đắc nhân tâm
Vinh hoa phú quý niên trường thọTài lộc an khang tuế cát tường Sắc cầm hảo hiệp câu mai trúcVĩnh kết đồng tâm chữ đá vàng Vi nhơn hòa khí sinh vô hạnh,Xử sự công bình lộc tự nhiên
CÂU ĐỐI TẾT PHÚC – LỘC – THỌPhúc lai miên thế trạch Lộc mãn trấn gia thanh. (Phúc dâng tràn mọi nẻo Lộc thơm ngát cửa nhà).Phúc như Đông Hải trường lưu thủy Thọ tỷ Nam Sơn bất lão tùngPhúc: như đông hải mãi trường lưu. Lộc: tấn vinh hoa phú quý sinh. Thọ: tỷ nam sơn tùng bách lãoPhúc sinh phú quý gia đình thịnh Lộc tấn vinh hoa tử tôn hưng.Phúc mãn đường niên tăng phú quý Đức lưu quang nhật tiến vinh hoa.Phúc do thiên địa nhân do tâm Đức tại tổ tiên tu tại ngã.Phúc Lộc Thọ tam tinh cùng chiếu Thiên Địa Nhân nhất thể đồng xuân.Thịnh thế trường thanh thụ Bách liên bất lão tùng
Thọ đồng sơn loan lão. Phúc cộng hải thiên trường.
Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường.Vinh hoa phú quý niên trường thọ Tài lộc an khang tuế cát tường. Xuân đa kiết khánh Hạ bảo bình an Thu tấn vinh hoa Đông nghinh bá phúc.
Mã đáo thành công. An khang thịnh vượng. Vạn sự như ý. Đắc lộc toàn gia. Phúc lộc thọ toàn. Tân gia tấn phúc. Lộc tài vô tận. Tấn tài tấn lộc. Cát tường như ý.
Ngũ phúc lâm mônMinh niên tăng vạn lộc Xuân nhật tập thiên tường.
Niên niên như ý xuân Tuế tuế bình an nhật.Tân niên tân phúc tân phú quý Tấn tài tấn lộc tấn bình an.Xuân đáo bình an tài lợi tiến Mai khai phú quý lộc quyền lai.Môn đa khách đáo thiên tài đáo Gia hữu nhân lai vạn vật lai.Bình an trúc lớn nghìn năm biếc Phú quý nở hoa một đoá hồng. Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnhLộc tiến vinh hoa phú qúy xuân
Nhập môn tân thị kinh luân kháchMãn tọa dai đồng cẩm tú nhânNgồi chơi toàn người cẩm tú Niệm tiên tổ, duật tu quyết đứcKhải hậu nhân,trường phát kỳ tường Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đứcBố y tùy phận, cầu phúc đức lai tài Thiên địa vô tư, tích thiện tự nhiên thiệnThánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh Ðịa sinh tài, thế nghiệp quang huyThiên tứ phúc, gia thanh hiện thái
Phúc mãn đường, niên tăng phú qúyÐức lưu quang, nhật tiến vinh hoa Trúc bảo bình an, tài lợi tiếnMai khai phú qúy, lộc quyền lai
Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, và Hàn Quốc.
Nguồn gốc
Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù (桃符).Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán, người Trung Quốc quan niệm: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”[1].Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934–965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959[2].
Nguyên bản: 新年納餘慶嘉節號長春
Phiên âm:Tân niên nạp dư khánhGia tiết hiệu trường xuân
Dịch thơ:Năm mới thừa chuyện vuiTiết đẹp xuân còn mãi
Những nguyên tắc của câu đối
Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.
Đối ý và đối chữ
Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.
– Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.- Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây…) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru…) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho…
Vế câu đối
Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.
Số chữ và các thể câu đối
Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:
Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:
– Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền- Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài- Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.
Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.
Câu đối theo hình vẽNgười Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật:
Phân loại theo cách dùng
Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa.
Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính.
Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v.
Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong.
Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác.
Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp).
Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật
Điệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục.
Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục.
Đỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau.
Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v.
Xích (sách) tự liên (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v.
Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín.
Vô tình đối (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, có chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên.
Hồi văn liên (回文聯): Đọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.
Câu đối Việt Nam
Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:
Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới…Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm(Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)
Câu đối phúng: làm để viếng người chết.Nhà chỉn nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam đá chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việcBà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.(Nguyễn Khuyến: câu đối khóc vợ)
Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa…về dịp Tết Nguyên Đán.Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.(Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)Tết đến không tiền vui chi Tết / Xuân về kết gạo đón chi Xuân.(Tác giả, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)
Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.(Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân. Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết) hoặc:Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnhSống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang(Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia)Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.(Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).
Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh(Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)
Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.Nếp giàu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấmViệc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giàu (trầu) nước)
Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.Giơ tay với thử trời cao thấpXoạc cẳng đo xem đất ngắn dài(Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)
Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?
Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi(Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)
Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa…Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến giàCon công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại(Câu đối có bốn chữ: cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)
Có những vế câu đối rất khó đối như:
Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa “về quê”) và phụ tử (cũng có nghĩa “cha con”) đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc.
Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam)
Da trắng vỗ bì bạchVế đối này của Đoàn Thị Điểm, hiện nay, có khá nhiều người đối nhưng chưa chỉnh, câu đối đã được đăng ở quyển Thế giới mới được coi là tạm ổn nhất.”Sáng sớm mùa đông, qua cửa phía đông, đến chợ người đông, mua cục thịt đông“
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Bài này là về thư pháp nói chung, để tìm hiểu về thư pháp chữ Hán, xin xem bài Thư pháp Á Đông.)
Xin chữThư pháp (chữ Hán: 書法) là nghệ thuật viết chữ đẹp. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoa và người Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật. Về gốc Hán Việt, thư pháp có nghĩa là phép viết chữ. Nhưng không đơn giản chỉ với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp, thư pháp, hay thư đạo trong hàm nghĩa sâu xa còn là phương tiện để biểu hiện tâm, ý, khí, lực của người dụng bút.Tại Việt Nam, nghệ thuật thư pháp thường theo phong cách thư pháp Trung Hoa, dùng bút lông và mực tàu.
Một câu đối Tết viết chữ Quốc ngữtheo lối thư pháp, trên Đường hoa Nguyễn Huệ 2009Tại Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, các tác phẩm thư pháp thường được thể hiện bằng chữ Hán và sử dụng bút lông, mực tàu, giấy và nghiên mài mực, còn gọi là “văn phòng tứ bảo”. Người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ lên thành một môn nghệ thuật cao quý có tính chất phô diễn khí phách tiết tháo của con người. Thư pháp tại Nhật Bản gọi là thư đạo trọng ý hơn trọng hình, còn tại Hàn Quốc gọi là thư nghệ.Thư pháp Á Đông vừa là một nghệ thuật độc lập, đồng thời là một thành phần trong bố cục của hội họa theo phong cách cổ Trung Hoa. Nhiều hoạ gia, như Tô Đông Pha, Mễ Phất đời Tống; Tề Bạch Thạch thời hiện đại, nổi tiếng cả về họa lẫn về thư pháp. Thư pháp hỗ trợ cho hội họa và bản thân một bức thư pháp đẹp cũng được coi như một bức họa với quan niệm “thư họa đồng nhất thể”.Ngoài văn phòng tứ bảo, cũng cần kể đến ấn chương (con dấu hay triện) làm bằng các chất liệu như đá, gỗ, kim loại mà việc khắc chạm nó và đóng dấu sử dụng mực chu sa màu đỏ ở đâu trên bức thư pháp cũng đã được nâng lên thành bộ môn nghệ thuậtTại Triều Tiên, Nhật Bản, thư pháp cũng được đề cao. Trong các ngôi nhà cổ, người Nhật Bản thường dành một phòng cho nghi thức “trà đạo”, trên vách có một ngăn riêng (gian thờ, gọi làtokonoma) để treo một bức thư họa.Ở Việt Nam mặc dù không có truyền thống thư pháp như Trung Hoa hay Nhật Bản, nhưng căn cứ vào một số di cảo, bút tích, mặc tích trên giấy tờ, sách vở, sắc phong hay văn bia còn lại thì nước ta cũng không ít những danh nhân được người đời xưng tụng. Ngày nay, chữ việt viết lối thư pháp bằng công cụ bút lông, mực tàu, như một sự tìm tòi hình thức biểu hiện mới, cũng đang dần trở nên được nhiều người quan tâm. Thư pháp chữ Việt tuy ra đời sau nhưng có sức sáng tạo vô cùng lớn, thư pháp hiện đã được đưa vào rất nhiều chất liệu như gỗ, thư pháp trên đá, thư pháp trên mành tre
Tại phương Tây
Kiểu viết gothicThư pháp phương Tây (còn gọi là Calligraphy) có phong cách khác hẳn thư pháp Á Đông. Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ thay cho lối chữ thảo thường gặp trong thư pháp Á Đông.Thư pháp phương Tây có thể được thể hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọ, thước, compa, êke…
Thư pháp Ả Rập
Thư pháp Ả-rập. Kiểu DiwaniThư pháp Ả Rập là một khía cạnh của nghệ thuật Hồi giáo đã được phát triển song song với đạo Hồi và ngôn ngữ Ả Rập.Thư pháp Ả Rập/Ba Tư có quan hệ với các trang trí nghệ thuật Hồi giáo trên tường và trần của các nhà thờ Hồi giáo cũng như trên các trang kinh sách. Các nghệ sĩ đương đại của thế giới Hồi giáo đã học hỏi từ các di sản thư pháp để sử dụng trong các tác phẩm của mình.Thay vì gợi về cái gì đó liên quan đến thực tại của lời nói, đối với các tín đồ Hồi giáo, thư pháp là một sự biểu đạt của nghệ thuật cao quý nhất – nghệ thuật của thế giới tâm linh. Thư pháp đã trở thành hình thức thiêng liêng nhất của nghệ thuật Hồi giáo vì nó mang lại một mối liên kết giữa các ngôn ngữ của người Hồi giáo với đạo Hồi. Kinh thánh của đạo Hồi, kinh Koran, đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngôn ngữ Ả Rập, mà mở rộng của nó là thư pháp Ả Rập. Các câu cách ngôn và các đoạn hoàn chỉnh trong kinh Koran vẫn là những nguồn sống động cho thư pháp Ả Rập.